thj dh
chuc' tat ca cac ban lop' 12b mjnh thj tot trong kj` thj dạ hoc sap' tọ' nha! i wish you succeed in your exam! chuc' tat ca cac ban gap nhjeu may man' ! b'ngoc.12b
chuc' tat ca cac ban lop' 12b mjnh thj tot trong kj` thj dạ hoc sap' tọ' nha! i wish you succeed in your exam! chuc' tat ca cac ban gap nhjeu may man' ! b'ngoc.12b
Chiếc thuyền ngoài xa
----------- Con người trần trụi đời thường.
"Trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, dù có là tiểu thuyết hay truyện ngắn, cốt truyện thường không đóng một vai trò nào đáng kể. Nhà văn tập trung chú ý vào thân phận con người, tính cách nhân vật và đã huy động vào đấy tâm hồn đa cảm dồi dào ấn tượng tươi mới và xúc động về cuộc sống, bút pháp chân thực và một giọng văn trữ tình trầm lắng ấp áp" (Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi mới cách nhìn về con người, T.C Văn học, 1993, số 3, tr.20). Có thể nói Chiếc thuyền ngoài xa là một biểu hiện của xu hướng tìm tòi khám phá trong văn của Nguyễn Minh Châu, trở về với đời thường, với mảnh đất miền Trung cằn cỗi và cơ cực, đau đáu đi tìm câu hỏi cho những phận người trong cuộc sống đời thường trăm đắng ngàn cay. Trên tinh thần quyết liệt đổi mới, Nguyễn Minh Châu đã lấy con người làm đối tượng phản ánh thay cho hiện thực đời sống. Mặc dù không phủ nhận văn chương gắn với cái chung, với cộng đồng nhưng Nguyễn Minh Châu còn muốn thể hiện một quan niệm văn chương trước hết phải là câu chuyện của con người, với muôn mặt phức tạp phong phú với tất cả chiều sâu.
" Chiếc thuyền ngoài xa" ra đời ba năm trước thời điểm 1986 - mốc mà bất cứ một nhà văn Việt Nam xã hội chủ nghĩa nào cũng phải nhớ, như là năm khai sinh và tái sinh con đường nghệ thuật của mình, ít nhất là về tư thế cầm bút, họ được tự do.
Nguyễn Minh Châu được coi là vị khai quốc công thần của triều đại văn học đổi mới. Bắt đầu từ Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu tăng dần độ rung chấn vào cơ địa văn đàn đương thời, dự báo một cuộc bung trào dung nham đổi mới triệt để của văn học nghệ thuật những năm sau đó. Cuộc bung trào dung nham này như là một nhu cầu nội sinh, xuất phát từ chính bản thân văn học, mặt khác, từ chính những biến đổi lớn lao của đời sống xã hội. Nhà văn bắt buộc phải kiểm soát những nhu cầu ấy, rời xa nó tức là chuốc lấy cho mình con đường hẹp, mọi sáng tác chỉ như một phế liệu của nghệ thuật mà thôi.
Cấu trúc văn bản của truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa"
Nguyễn Thanh Tú
Để góp phần phân tích giảng dạy tốt hơn tác phẩm này chúng tôi xin đưa ra một hướng tiếp cận. Chúng tôi coi đây chỉ là một kinh nghiệm cá nhân, rất mong được sự trao đổi ý kiến của các bạn đồng nghiệp.
Trước hết cần đặt truyện ngắn này trong cảm hứng sáng tác chung của Nguyễn Minh Châu giai đoạn đầu những năm 80 ở thế kỷ trước, đó là cảm hứng luận đề. Cảm hứng luận đề thể hiện ở một loạt truyện Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Hương và Phai, Bến quê, Khách ở quê ra, Mẹ con chị Hằng, Sống mãi với cây xanh, Mảnh đất tình yêu, Một lần đối chứng, Chiếc thuyền ngoài xa ... có tính luận đề ở chỗ nhà văn đã cho "đối chứng" với các quan niệm lạc hậu, lỗi thời, cổ hủ, xưa cũ... về con người, về cuộc đời và cả về nghệ thuật. Ngay chính Nguyễn Minh Châu, lúc sinh thời cũng có lần tâm sự rằng chính mình cũng chưa thích "một vài truyện tính chất luận đề về đạo đức để lộ ra quá rõ"(1). Chiếc thuyền ngoài xa cũng thể hiện điều này ở một vài câu văn, ví dụ: "Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính là đạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khoắc trong phần của tâm hồn". Nó chỉ là một vài vết gợn để lộ ra mục đích thuyết giáo của tác giả, không ảnh hưởng tới chủ đề chính của tác phẩm là luận đề về quan niệm giữa chân lý nghệ thuật và cuộc sống. Chính cảm hứng luận đề này đã chi phối Chiếc thuyền ngoài xa và Một lần đối chứng: nhà nghệ sĩ phải nhìn kĩ, nhìn sâu vào những gì tưởng là đẹp đẽ, hài hoà để nhận ra bản chất của nó, từ đó mà có trách nhiệm cao hơn, sâu sắc hơn với cuộc đời và con người.
NGHỆ THUẬT ĐỒNG HIỆN TRONG TÁC PHẨM
"NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH"
Nhà văn Nguyễn Thi tên thật là Nguyễn Ca , người Nam Hà . Ông vào Nam từ năm 1945 , gia nhập quân đội và viết văn dưới bút danh Nguyễn Ngọc Tấn . Tập kết ra Bắc năm 1954 , năm 1962 ông trở lại miền Nam lần thứ hai , viết văn dưới bút danh Nguyễn Thi . Ông thuộc lớp nhà văn cầm súng , ông hi sinh trong vị trí , tư thế chiến đấu giữa mùa xuân tiến công và nổi dậy năm 1968 trong trận đánh vào Sài Gòn . Là nhà văn chiến sĩ , Nguyễn Thi có nhiều đóng góp cho nền văn học cách mạng . Một trong những đóng góp đáng kể của ông về nghệ thuật là sự thể hiện thành công ở truyện "Những đứa con trong gia đình" . Truyện viết năm 1966 , lúc Bến Tre đã đồng khởi , nhân dân miền Nam đã cầm vũ khí đánh lại Mỹ-Nhật giải phóng quê hương . Trong tác phẩm , Chiến và Việt lớn lên trong cảnh tan tóc của gia đình và trong cuộc đồng khởi vĩ đại của quê nhà .
Tác giả Nguyễn Thi đã sử dụng nghệ thuật đồng hiện trong tác phẩm này , đây là một thủ pháp khá quen thuộc về kết cấu tác phẩm , một yếu tố thuộc về hình thức . Như ta đã biết , kết cấu là việc tổ chức , sắp xếp các yếu tố nội dung trong văn bản tác phẩm để nó đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất . Thủ pháp đồng hiện góp vai trò quan trọng trong công việc này . Nó là một trong những thủ pháp tạo ra được lối kết cấu độc đáo . Từ đó , cốt truyện nhân vật , chủ đề được thể hiện , gây hiệu quả nghệ thuật sâu sắc . Dựa vào suy nghĩ của mình , tác giả thể hiện các sự kiện trong một thời điểm , các nhân vật trong cả hai mảng thời gian hiện tại và quá khứ đan xen nhau rất có hiệu quả .
TTCT - Sau gần 1/4 thế kỷ ra đời, năm 2008, bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường chính thức được tuyển vào sách ngữ văn lớp 12 với tư cách là nhà văn và tác phẩm tiêu biểu cho thể loại ký VN đương đại. Nhân sự kiện này, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với nhà văn tại nhà riêng của ông ở Huế.
Đó là một buổi chiều mùa thu năm 1984 ở vườn An Hiên - nơi Hoàng Phủ Ngọc Tường thường ngồi ngắm sông Hương và đọc sách. Qua ô cửa ngôi nhà cổ, dòng sông hiện ra với vẻ đẹp bãng lãng của một ít buồn, một ít lạnh, một ít gió... Như Vương Bột đời Đường đứng tựa mái hiên nhìn sông dài tự nó trôi đi trong bài phú Đằng Vương các. Trong giây phút cảm xúc trào dâng cùng sự giao hòa giữa thiên nhiên, ông đã đặt bút viết bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông. Tác phẩm được đăng trên tạp chí Sông Hương ngay sau đó.
* Thưa nhà văn, ông nghĩ gì khi bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông được đưa vào giảng dạy trong trường học sau hơn 20 năm ra đời?
- Hoàng Phủ Ngọc Tường: Quả thật tôi rất ngạc nhiên khi giáo sư Trần Đình Sử gọi điện báo là bút ký Ai đã đặt tên cho dòng sông sẽ được tuyển vào sách giáo khoa. Chưa bao giờ tôi nghĩ có một ngày tác phẩm của mình sẽ được đưa vào giảng dạy ở trường học. Ông ấy còn yêu cầu tôi cắt bớt vì tác phẩm dài quá, nhưng tôi trả lời là không thể tự cắt được bởi tác phẩm cũng như một cơ thể hoàn chỉnh, không thể cắt bỏ đi phần này hay phần khác. Tùy người tuyển chọn muốn cắt thế nào thì cắt.
Tôi cũng có hỏi là đã có bút ký của Nguyễn Tuân rồi, vì sao lại chọn thêm tác phẩm của tôi, GS Sử nói Nguyễn Tuân đại diện cho thế hệ tiền chiến, còn tác phẩm của tôi đại diện cho thể ký VN đương đại.
Ai đó đã từng viết " Đất nước có nhiều dòng sông nhưng chỉ có một dòng sông để thương, để nhớ như đời người có nhiều cuộc tình nhưng chỉ có một cuộc tình để mãi mãi mang theo". Vâng, "một dòng sông để thương, để nhớ" của mỗi người rất khác nhau. Nếu tên tuổi Văn Cao gắn liền với sông Lô hùng tráng; nếu Hoàng Cầm là nỗi nhớ của ta khi ngang qua "Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh"; nếu Hoài Vũ mãi là nhà thơ của con sông Vàm Cỏ đêm ngày thao thiết chở phù sa, thì Hoàng Phủ Ngọc Tường đã song hành cùng sông Hương đi vào trái tim người đọc với "Ai đã đặt tên cho dòng sông?."...
Có một huyền thoại vọng về từ làng Thành Trung, một ngôi làng trồng rau thơm ở Huế: Vì yêu quý con sông xinh đẹp, người dân hai bên bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước xanh thắm ấy mãi mãi thơm tho.
Phải chăng đó là cách lý giải tên của Hương Giang - con sông gắn liền với Huế, gắn liền với tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường?
Bút ký "Ai đã đặt tên cho dòng sông?" được viết năm 1981, khi tác giả đã sống bên bờ sông Hương, sống trong lòng Huế hơn 40 năm trời, tình yêu máu thịt đối với quê hương cứ lớn lên từng ngày và nó hiện hữu ở mọi thời gian, mọi không gian.
MỘT VÀI CẢM NHẬN VỀ TÙY BÚT AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ? CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG VŨ THỊ THU HIỀN Theo lí thuyết thi pháp học hiện đại, hình tượng tác giả là sự nhập thân của ý thức người sáng tạo vào trong tác phẩm nghệ thuật. Nếu hình tượng nhân vật được xây dựng theo nguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con người và theo tính cách nhân vật thì hình tượng tác giả trong bút ký, tùy bút được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện. Hình tượng tác giả biểu hiện ở cái nhìn, sự quan tâm lựa chọn những chủ đề, đề tài, thể loại, ở ngôn ngữ và cách diễn đạt của chủ thể sáng tạo. Hình tượng tác giả là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc của tác phẩm. Ai đã đặt tên cho dòng sông là tác phẩm cùng tên tập bút ký xuất bản vào năm 1986 của Hoàng Phủ Ngọc Tường sau hai tập bút ký Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Rất nhiều ánh lửa (1979). Tám bút ký trong tập sách vẫn được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết với cảm hứng ngợi ca và âm hưởng sử thi bởi người yêu nước Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn tri ân với sự hi sinh cao cả và những chiến công anh hùng của nhân dân. Nhưng điều đặc biệt ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, lòng yêu nước, tinh thần dân tộc còn gắn với tình yêu sâu sắc đối với thiên nhiên và truyền thống văn hoá của dân tộc. Ông đặc biệt trân trọng say mê văn hoá và lịch sử của mảnh đất quê hương. Bằng giọng văn đẹp, trầm lắng và tha thiết, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết về dòng sông quê hương, về hoa trái quanh ông với một tình cảm gắn bó sâu nặng "Lớn lên ở Huế, không lúc nào tôi không cảm thấy thành phố này như một khu vườn thân mật của mình" (Hoa trái quanh tôi). (Xem tiếp)
Từ xửa xưa, song song với định đề "thi trung hữu họa", bao giờ cũng là "thi trung hữu nhạc". Định đề ấy bảo rằng cùng với hoạ, nhạc là một yếu tính của thơ. Chừng nào còn thơ, chừng ấy thơ còn nhạc. Quả có vậy, nhạc là phần tinh chất của cảm xúc thơ đã được điệu thức hoá. Ngân nga cả bên trong cả bên ngoài mỗi tiếng thơ, nhạc đã thực sự là phần hồn của thơ. Nó là hơi thở của ngôn từ thơ. Tất nhiên, đây là nói nhạc của ngôn ngữ. Thơ đã phát huy bao hiệu quả phong phú của ngôn ngữ để cất lên tiếng nói riêng của mình. Không chỉ vậy, để làm giàu cho mình, thơ còn khai thác cả ngôn ngữ của nhạc nữa. Bao đời nay, đã có biết bao yếu tố nhạc từ vương quốc âm nhạc đã vượt biên, rồi nhập tịch vào thơ, ban đầu, tạm trú, về sau, thường trú. Thậm chí, nhờ sự cưu mang quá sâu nặng của thơ, trải đời này đời khác, mà nhiều thứ đã được... đồng hoá luôn. Dân ngụ cư đã biến thành dân sở tại. Gốc gác âm nhạc của chúng, đôi khi, chỉ còn là kí ức xa xăm. Đó phải chăng cũng là một kiểu hoà nhập tiếp biến ? Là một tay bút ham cách tân, Thanh Thảo cũng đã tạt sang âm nhạc vay mượn không ít vốn liếng đem về đầu tư cho thơ mình. Để làm các trường ca Những người đi tới biển, Những nghĩa sĩ Cần Giuộc, Bùng nổ của mùa xuân, Đêm trên cát..., anh đã mướn cấu trúc của những bản giao hưởng và xônát. Khiến cho các thi phẩm ấy có cái dáng là lạ như một thứ trường-ca- giao-hưởng. Còn để viết thơ ngắn, lắm khi anh lại giật tạm cấu trúc của ca khúc. Có lúc thì đem về lai ghép để tạo ra một diện mạo mới. Cũng có lúc lại làm theo kiểu biến đổi gen mà tạo ra giống mới. Nhiều bài thơ ngắn được anh tổ chức khá ngon lành theo thể thức của bài hát. Dáng của chúng nhang nhác như những ca-khúc-thơ. Mà cũng không chỉ vay cấu trúc thuộc văn bản khúc ca, anh còn mượn cả lối diễn tấu ca khúc để làm giàu cho hình thức thơ nữa. Đàn ghi-ta của Lorca là một "ca" như thế chăng ? Ghi nhớ (Người dịch: Đan Tâm)
Powered by Vnweblogs | |||